Tư vấn về xác định tình trạng hôn nhân của Khách hàng

A. Hỏi:
Khách hàng Nguyễn Văn A đang làm thủ tục vay tại Đơn vị kinh doanh có hồ sơ nhân thân như sau:
Khách hàng sinh năm 1963, địa chỉ tại Hải Phòng. Từ năm 1983 (khi khách hàng 20 tuổi) đến năm 2006 khách hàng sinh sống và làm việc tại Đức. Khách hàng có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân: chưa từng kết hôn với ai từ tháng 5/2006 đến hiện tại
Ngày 16/7/2014 khách hàng mua căn và đã làm thủ tục sang bìa trong đó ghi rõ là tài sản riêng và đây cũng là tài sản thế chấp và mục đích vay vốn của khách hàng.
Hồ sơ đang được CPC xem xét và chuyên gia phê duyệt có yêu cầu khách hàng cung cấp thêm tình trạng hôn nhân trước thời gian 2006.
Tuy nhiên thời gian đó khách hàng ở Đức nên khách hàng không thể xin được xác nhận của bất kỳ cơ quan công quyền nào về tình trạng độc thân tại thời điểm đó.
Theo khách hàng trao đổi thì thời gian sống ở Đức có sống chung với một người nhưng chưa từng đăng ký kết hôn với ai và đến hiện tại khách hàng vẫn độc thân.
ĐVKD xin được tư vấn về trường hợp này: khách hàng đã có xác nhận độc thân từ tháng 5/2006 đến hiện tại khách hàng chưa từng kết hôn, tài sản hình thành tháng 7/2014 ghi rõ “tài sản riêng” đã đủ chứng minh được về việc khách hàng tự tạo lập tài sản và tự vay vốn? Việc khách hàng không thể xin được xác nhận độc thân trong thời gian trước năm 2006 có gây rủi ro gì cho việc cấp tín dụng của VPBank không?

B. Trả lời:
Trong phạm vi yêu cầu tư vấn của Đơn vị, Pháp chế có ý kiến như sau:
Việc yêu cầu các văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân của KH (Giấy đăng ký kết hôn/Quyết định ly hôn/Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân) các tài liệu cần thiết để NH có thể xác thực tình trạng sở hữu đối với TSBĐ, tránh việc xảy ra các tranh chấp về chủ sở hữu TSBĐ mà có thể dẫn tới HĐTC bị vô hiệu. Theo quy định của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP về hướng dẫn Luật HNGĐ thì trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng. Theo đó NH cần yêu cầu KH cung cấp các giấy tờ về tình trạng hôn nhân để xác định xem tài sản này có thuộc sở hữu chung của vợ chồng hay không.
Về mặt pháp lý, an toàn nhất là phải yêu cầu KH cung cấp được các văn bản để có thể xác định tình trạng hôn nhân của KH từ khi KH đủ tuổi kết hôn (Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên) đến thời điểm thế chấp tại NH. Việc yêu cầu KH cung cấp xác nhận tình trạng hôn nhân từ thời điểm đủ tuổi kết hôn có thê sẽ khó khăn cho KH nhưng việc này là để loại trừ việc trước khi TSBĐ hình thành, KH đã tồn tại một quan hệ hôn nhân nào đó nhất là đối với trường hợp KH di chuyển qua nhiều địa phương, các địa phương chỉ xác nhận tình trạng hôn nhân của KH cho giai đoạn có mặt tại địa phương đó mà không xác nhận cho giai đoạn trước. Trường hợp này, nếu Chủ tài sản cố ý gian dối và che giấu việc trước khi chuyển đến địa phương này người này đã tồn tại một quan hệ hôn nhân nào đó thì sẽ rất rủi ro cho NH.
Như vậy, an toàn nhất về mặt pháp lý thì KH sẽ phải cung cấp các giấy tờ xác định tình trạng hôn nhân từ thời điểm đủ tuổi đăng ký kết hôn.
Comments